TS. Nguyễn Khắc Nhẫn

Nguyên cố vấn Nha kinh tế, dự báo, chiến lược EDF Paris

và G.S Trường Đại học Bách khoa Grenoble

Đất nước ta chưa cần điện hạt nhân

A - Thị trường quốc tế còn lu mờ:

Cuộc khủng hoảng điện hạt nhân trên thế giới kéo dài đến 2020.

1/- Tính cách trầm trọng của cơn khủng hoảng :

Hiện nay trên thế giới có 33 nước sản xuất điện hạt nhân với 436 lò, tổng công suất đặt là 358 000 MW (1MW=1000kW). Năm 2000, tổng sản lượng điện toàn cầu la 15 379 TWh (tỷ kWh), trong đó phần điện hạt nhân bằng thủy điện (17% tức 2 590 TWh). Hai nước đứng hàng đầu là Mỹ (103 lò, 100 000 MW, 769 TWh, 20,3% điện hạt nhân), Pháp (58 lò, 63 000 MW, 401 TWh, 77,1% điện hạt nhân). Trên toàn cầu chỉ có 12 nước, phần lớn ở Châu Á (Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Đài Loan ...), đang xây cất 32 lò hạt nhân, một con số rất thấp, so với nhu cầu điện lực của hơn 6 tỷ người. Tỷ lệ 6,5% của nhiên liệu hạt nhân trong tổng kết nhu cầu năng lượng sơ cấp thế giới không thay đổi từ 2000 đến 2020, nói lên sự trầm trọng của cơn khủng hoảng, tiếp tục kéo dài từ 25 năm nay. Năm 2002, cơ quan quốc tế năng lượng đã tiên đoán rằng tổng công suất điện hạt nhân thế giới 358 000 MW năm 2000 sẽ hạ xuống còn 320 000 MW năm 2020.

Mỹ đã không đặt mua một lò hạt nhân nào cả từ 1978. Công suất đặt hạt nhân của nước này sẽ hạ 30 đến 40% từ đây đến 2020. Ở Tây âu, nhiều nước chuẩn bị rút lui có trật tự (Thụy Điển, Bỉ, Đức ...) hoặc không hưởng ứng điện hạt nhân nữa (Anh, Ý, Thụy Sĩ, Tây Ban Nha ...). Nên hỏi tại sao một cường quốc như Đức, chỉ có than là nguồn năng lượng thiên nhiên (phải nhập khẩu năm 2001 : 36 triệu tấn than, 105 triệu tấn dầu thô, 43,7 triệu tấn sản phẩm dầu, 78,7 tỷ m3 khí) mà có đủ can đảm hy sinh điện hạt nhân? Một thay đổi đột ngột chiến lược như thế, dù đảng xanh ngày mai có ra ngoài chính phủ đi nữa, cũng khó quay ngược trở lại.

Lẽ cố nhiên, một vài nước như Thụy Điển vì nhu cầu cấp bách, kéo dài thời gian vận hành chẳng qua là vì vấn đề kinh tế. Chỉ có Phần Lan đang muốn đặt mua một lò EPR (European Pressurized Reactor) của Pháp-Đức chưa xuất hiện trên thị trường. Ở Nhật, nhiều sự cố kế tiếp đã xảy ra (lò neutron nhanh Monju, nhà máy xử lý nhiên liệu Tokaimura, vết nứt ở các mối hàn). Năm 2003 một số lớn nhà máy được lệnh phải tạm ngưng hoạt động, làm mất nhiều tỷ USD và sự tin cậy của chính phủ và dân chúng.

Về phương diện kỹ thuật, ba vấn đề chính vẫn chưa được giải quyết ổn thỏa : bảo đảm an toàn, xử lý nhiên liệu hạt nhân, lưu trữ chất thải phóng xạ. Do đó các thủ tục pháp lý và hành chính trở nên rườm rà và phức tạp. Về phương diện tài chính và kinh tế, những trở ngại ngày nay quan trọng hơn trước nhiều, do việc mở cửa thị trường điện lực với sự cạnh tranh vô cùng mãnh liệt giữa các công ty tư nhân (muốn đầu tư vào tua bin khí hỗn hợp nhanh và có lợi hơn nhiều). Trong tình trạng bấp bênh này, ai dám đầu tư vào các lò hạt nhân đòi hỏi kinh phí quá cao (hàng tỷ USD) với thời gian thu lại vốn quá dài (8-12 năm). Thị trường điện hạt nhân không phải là một thị trường ngắn hạn. Ngay cả ngân hàng thế giới cũng vô cùng dè dặt trong vấn đề này đối với các nước đang phát triển. Về phương diện xã hội, phong trào chống đối điện hạt nhân không phải chỉ là những luồng gió thổi thoáng qua. Nó lan rộng, thiết thực và có ý nghĩa sâu đậm.

2/- Ảnh hưởng của việc mở của thị trường điện lực :

Sự mở cửa thị trường điện lực đã gây khủng hoảng và sẽ tiếp tục đem lại tình trạng hết sức căng thẳng ở nhiều nước. Nhiều nhân vật và cơ quan có thẩm quyền đã lên tiếng phản đối sự mở cửa này. Một trong những lý do chính cần biết về đặc tính của điện (khác với than, dầu, khí …) là không tích trữ được (non stockable). Sản xuất ra là phải tiêu thụ ngay. Nếu không có nhà nước thì ai lo kế hoạch đầu tư dài hạn, ai chú trọng đến vấn đề an toàn, bảo đảm sự cung cấp điện lực liên tục cho dân chúng ?

Những công ty tư nhân không thể chờ đợi quá lâu để thu lại vốn. Cơn khủng hoảng điện hạt nhân trên thế giới trở nên trầm trọng cũng vì thế. Ở Pháp vào năm 2007, EDF (Electricité de France) sẽ hoàn tất việc mở cửa thị trường với khách hàng tư nhân. Trên lý thuyết, việc mở cửa thị trường cho sự cạnh tranh, có mục đích làm hạ giá điện và tăng chất lượng dịch vụ. Tuy vậy ở Âu châu, đối với những thị trường đã hoàn toàn mở cửa (Anh, Đức, Áo, Phần Lan, Thụy Điển), giá điện không hạ thấp như dân chúng mong đợi. Nhiều công ty tư nhân vì tham lợi nhuận, hạn chế sản xuất để tăng giá bán.

Ở Mỹ, sự kiện tai tiếng của tập đoàn năng lượng Enron và nạn thiếu điện trầm trọng ở Californie từ mấy năm nay là một bài học, mà nhiều nước cần lưu ý. Ở Anh chính phủ đã cấp tốc quốc hữu hóa trở lại British Energy (20% thị trường quốc gia) không ngoài mục đích để tránh những hậu quả không tốt có thể xảy ra. Ở trong nước, cuối tháng 7 - 2003, Bộ Công nghiệp đã tuyên bố với báo giới rằng việc xóa độc quyền điện lực cần phải đi từng bước. Hết sức thận trọng như thế là phải.

Mùa hè vừa qua, nhiều sự cố quan trọng đã xảy ra trên một số hệ thống điện lớn (Mỹ và Canada ngày 14/08, Đan Mạch ngày 23/09, Ý ngày 28/09) làm hàng chục triệu người bị cúp điện khá lâu. Ở Pháp, giữa tháng 08 vì nạn hạn hán ác liệt (41-42°C) bất ngờ, EDF suýt phải cúp điện. Hiện tượng này chứng minh sự mỏng manh (fragilité) của một chương trình điện hạt nhân nhất nhì thế giới.

3/- Xử lý nhiên liệu hạt nhân và lưu giữ chất thải phóng xạ :

Mỗi năm, một lò PWR-1000 MW (với nhiên liệu 238U + 3,5% 235U) có thể sản xuất 6TWh và sinh ra khoảng 21 tấn nhiên liệu phóng xạ. Khối lượng này gồm có 20 tấn U (0,9% 235U), 330 kg Pu, 21 kg Actinides nhỏ (10 kg 237Np + 10 kg 241Am + 1 kg 244Cm) và 1183kg sản phẩm phân rã (có 80 kg hoạt tính cao với đời sống dài).

Lúc đầu, xử lý nhiên liệu hạt nhân chủ yếu là để lấy Pu (Plutonium) cho quân đội. Sau đó Pu được trích ra để dùng trong các lò siêu phản ứng như Phénix (250 MW) và Superphénix (1250 MW) của Pháp. Chính phủ nước này đã can đảm ra lệnh đóng cửa Superphénix năm 1998. Vì nhà máy rất nguy hiểm, bị trục trặc liên tiếp. Làm tốn hao gần 10 tỷ USD.

 Phương pháp dùng PuO2, ở nhiên liệu phóng xạ trích ra, trộn với UO2 thành nhiên liệu MOX (Mixed Oxide Fuel) cho những lò PWR (Pressurized Water Reactor), sự thật không có lợi gì lắm về phương diện kinh tế cũng như môi trường. Nó cũng không giải quyết vấn đề chất thải phóng xạ. Nó chỉ làm giảm khoảng 15% những chất  thải hoạt tính cao với đời sống dài, nhưng ngược lại, làm tăng số lượng chất thải hoạt tính trung bình. Cuối cùng cũng vẫn phải lưu giữ nhiên liệu MOX phóng xạ. Thời gian để làm nguội lạnh cần 150 năm thay vì 50 năm với chất UO2 cổ điển.

Vì vậy nên nhiều nước đã bỏ phương pháp này. Điều đáng lo ngại (vì sợ bọn khủng bố) là nhiều lúc phải chuyên chở nhiên liệu phóng xạ và Pu từ tỉnh này sang tỉnh khác hoặc ra ngoại quốc. Cơ xưởng La Hague mang tiếng “thùng rác hạt nhân” của Pháp đã nhận xử lý nhiên liệu phóng xạ của nhiều nước như Nhật, Đức, Bỉ.

Ngoại trừ Pháp, phần lớn các nước áp dụng chu trình mở (cycle ouvert) nghĩa là không thực hiện khâu xử lý nhiên liệu hạt nhân rất phức tạp và tốn kém. Vì lý do kinh tế và an toàn, EDF cũng đã đặt câu hỏi trong tương lai có nên bỏ chu trình kín (cycle fermé) hiện hữu hay không, vì trước sau cũng phải giải quyết việc lưu giữ chất thải phóng xạ. Vấn đề này trở nên trầm trọng.

Về việc lưu giữ chất thải phóng xạ, điểm yếu lớn nhất của điện hạt nhân, sau nửa thế kỷ, khoa học và kỹ thuật vẫn chưa tìm ra lối thoát. Không có nước nào dám tuyên bố sẽ thành công trong tương lai gần hay xa (hàng chục năm hay thế kỷ). Giải pháp “tạm thời” rất tốn kém, tóm tắt là thủy tinh hóa chất thải, rồi tạm chôn sâu vào lòng đất có đất sét hoặc muối, với hy vọng một ngày kia khoa học sẽ giải quyết ổn thỏa vấn đề ! Ngày nào việc xử lý nhiên liệu hạt nhân và lưu giữ chất thải phóng xạ chưa được giải quyết hoàn bị, ngày ấy tồn tại sự nghi ngờ và chống đối của dân chúng (vẫn còn ám ảnh bởi Hiroshima và Nagasaki).

4/- Tai biến, vũ khí nguyên tử và an ninh :

Tai biến :

Mặt trời (“sống” được nửa đời: 4,5 tỷ năm) cũng là một lò hạt nhân nên phóng xạ thiên nhiên có ở khắp nơi trên vũ trụ. Phóng xạ nhân tạo được Irène và Frédéric Joliot Curie (cả hai được giải thưởng Nobel) khám phá ra năm 1934.

Một số đơn vị cần biết :

·         Về tác động : Becquerel (Bq) (1Bq=27picocuries)

Curie (Ci) (1Ci=3,7.1010Bq)

·         Về liều hấp thu: Gray (Gy) (1Gy=1joule/kg=100rad)

                           Rad (rad) (1rad=10-2Gy)

·         Về liều tương đương: Sievert (Sv) (1Sv=100rem)

                           Rem (rem) (1rem=10-2Sv)

Người ta thường dùng đơn vị thời gian là giờ để so sánh những liều hấp thu hoặc tương đương như Gy/h, rad/h, Sv/h hay rem/h.

Trong lĩnh vực đề phòng phóng xạ, đơn vị Sievert (Sv) dùng để tìm hiểu sự sai biệt về hiệu quả sinh học của những bức xạ.

 

Theo định mức ở Pháp, hiện nay liều bức xạ tối đa được chấp nhận là :

·         Dưới 50 mSv/1 năm cho người đi làm ở những nơi có phóng xạ.

·         Dưới   5 mSv/1 năm cho dân chúng.

·         Dưới   1    Sv/1 năm trọn đời người.

Three Mile Island và Tchernobyl là hai nhà máy điện hạt nhân khét tiếng đã làm chấn động công nghiệp hạt nhân dân sự. Ngày 28/03/1979 một sự cố lớn đã xẩy ra ở lò Three Mile Island (TMI2) gần Harrisburg (Pennsylvanie-Mỹ). Tim lò (PWR - 900 MW) bị thiệt hại, nhiệt độ lên quá 1800°C, làm phát tán phóng xạ. Sai lầm ở công nhân vận hành nhiều hơn là ở thiết kế.

Sáng ngày 26/04/1986, ở lò Tchernobyl số 4 RBMK (Reaktor Bolchoi Mochtchnosti Kanalni -1000 MW) cạnh thành phố Pripyat (Ukraine), cũng đã diễn ra một tai biến khủng khiếp. Tai biến này được xếp ở cấp 7, cao nhất của thang độ (Echelle INES - International Nuclear Event Scale). Vì nổ mạnh (nổ hơi - explosion vapeur, không như bom nguyên tử), nóc bay và nhà máy bị cháy lớn làm phát tán phóng xạ ra ngoài, lan tràn nhiều vùng ở Nga, các nước Bắc Âu, miền Nam nước Pháp và một số nước khác. Lúc đầu nhiều người chết vì liều bức xạ quá cao, 800-1600 rem (đơn vị liều tương đương). Lỗi, phần lớn do quan niệm kỹ thuật thiết kế thiếu bảo đảm (thể tích giam hãm - volume de confinement - quá nhỏ - xem như không có nhà bảo vệ) và một phần cũng vì công nhân vận hành không thực hiện đúng các hướng dẫn.

Hàng  ngàn tấn cát, đất sét, bore, dolomite và chì (plomb) được nhiều trực thăng đổ gấp xuống lò để làm giảm chất thải phóng xạ (tác dụng máy lọc). Sau đó người ta dùng bêtông và thép để che lấp nhà máy. Kinh phí ban đầu lên quá 550 triệu USD. Cuối năm nay đến 2008, người ta dự kiến sẽ xây dựng một công trình đồ sộ bao vây cái sarcophage đã bị rạn nứt. Công trìnhh cần 20 ngàn tấn thép và trị giá trên một tỷ USD với sự đóng góp tài chính của cộng đồng Châu Âu.

Theo nhà chức trách, chỉ có vài chục người bị tử nạn! Vì sợ dân chúng hoang mang và trách móc, nên những con số chính xác cao hơn nhiều vẫn không được công bố. Đến nay đã có hàng ngàn trẻ em bị mổ tuyến giáp (thyroide), mỗi năm thêm ít nhất 100 cháu. Hậu quả tàn khốc Tchernobyl, sau 18 năm vẫn âm thầm tiếp diễn trong sự dối trá. Theo những thống kê mới nhất của Ukraine, tai biến Tchernobyl đã gây đau thương cho trên 3 triệu nạn nhân trong số đó có hàng trăm ngàn người mang bệnh, tàn tật và hàng chục ngàn người bị thiệt mạng, phấn lớn là lính cứu chữa ban đầu (liquidateurs).

 Ở Pháp toà án cũng sắp đem xét xử 400 đơn khiếu nại của những gia đình bị ảnh hưởng phóng xạ 137Cs của làn mây Tchernobyl.

Vũ khí nguyên tử :

Trên đầu mỗi người dân trên thế giới, đè nặng một sức phá hoại tương đương với hàng tấn chất nổ cổ điển. Điều mâu thuẫn và đáng lo ngại nhất là 90% vũ khí buôn bán trên thị trường quốc tế, được sản xuất ở tại 5 nước, toàn là ủy viên thường trực trong Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc !

9 nước đã có bom nguyên tử, 13 nước có vũ khí sinh học, 16 nước có vũ khí hóa học. Vài nước có đủ loại NRBC (Nucléaire, Radiologique, Biologique, Chimique), hai loại BC, tương đối kín đáo, dễ làm và rẻ tiền. Có nước đang thí nghiệm vũ khí dùng uranium nghèo (Uranium appauvri) ít độc hơn. Từ khi bức tường Berlin sụp đổ, việc buôn bán trong lĩnh vực hạt nhân được thực hiện trong bóng tối theo ba hướng : chất phóng xạ, kỹ thuật và chuyên viên có kinh nghiệm. Ngày nay chiến lược cảnh báo nguyên tử (dissuasion nucléaire) không còn hiệu lực như trước. (Dân tộc Việt Nam đã có dịp chứng minh rằng ý chí mạnh hơn vũ khí). Bọn khủng bố với vài trăm gam chất phóng xạ cũng đủ để làm tê liệt một thành phố. Chúng có điều kiện để chế bom nguyên tử. Hàng chục kg chất phóng xạ đã mất tích.

Cuối 2000, toàn cầu có trên 1500 tấn Pu, đủ để sản xuất hàng vạn bom nguyên tử. Từ 1970 đến nay, 188 nước đã ký hiệp ước không cho tăng nhanh quá mức chất phóng xạ, dưới sự kiểm soát của cơ quan quốc tế năng lượng nguyên tử (AIEA). Tuy nhiên, an ninh thế giới vẫn không được bảo đảm, vì cơ quan AIEA thiếu điều kiện thanh tra chu đáo (ví dụ : Bắc Triều Tiên, Iran, Libye). Trên thực tế, vai trò của AIEA bị hạn chế, không như người ta tưởng lầm. Làm bom nguyên tử cần chất phân rã (matière fissile) phải làm giàu 238U ra 95% 235U hay Pu và một khối lượng tới hạn (masse critique) từ 5 đến 7 kg, tùy theo trạng thái kim loại hay PuO2. Kỹ thuật làm giàu (enrichissement) 238U, hay trích Pu bằng cách xử lý nhiên liệu phóng xạ, cho quân đội hay dân sự đều giống nhau.

Kỹ thuật làm giàu có 2 phương pháp chính. Phương pháp ly tâm siêu tốc (Ultracentrifugation) được Nga và tập đoàn Urenco gồm Đức, Anh, Hà Lan áp dụng. Libye và Iran cũng dùng máy ly tâm với sự giúp đỡ “thầm kín” của chuyên gia Pakistan. Phương pháp khuyếch tán khí (diffusion gazeuse) tốn rất nhiều kinh phí và điện lực được Pháp áp dụng ở cơ xưởng Eurodif để làm giàu 238U ra 3,5% - 3,7% 235U dùng trong các lò PWR.

 

An ninh :

Tóm tắt có ba loại tai biến đáng lo sợ : sự cố lớn trong 1 nhà máy điện hay trong xưởng chế tạo hoặc xử lý nhiên liệu hạt nhân, tai nạn dài hạn liên quan đến chất thải phóng xạ, tai nạn gây ra bởi mức tăng trưởng quá nhanh vũ khí nguyên tử.

Viện năng lượng nguyên tử VN (VNLNTVN) có vẻ lạc quan khi nêu tính an toàn kỹ thuật và chất thải phóng xạ. Hai tai biến Three Mile Island và Tchernobyl xảy ra lúc bấy giờ toàn cầu chỉ có vài ba trăm lò hạt nhân, mặc dù xác suất rủi ro là 10-6 (trên 1 triệu). Xây cất lò hạt nhân nếu có sự làm dối, mất trộm bê tông cốt sắt, vật liệu thì ai dám bảo đảm an toàn cho dân chúng. Ai dám bảo đảm với bộ quốc phòng sự ổn định, qua nhiều thế hệ, của tình hình chính trị ngoại giao đối với các nước láng giềng có bom và vũ khí nguyên tử. Có nước nào không sợ cảm tử quân và bọn khủng bố quốc tế ?

5/- Khoa học và kỹ thuật :

Kỹ thuật các lò thế hệ II PWR của Mỹ, Nhật, Tây âu và các lò RBMK, VVER (Vodiano Vodianoi Energuietitcheski Reaktor) của Nga có thể xem như đã lỗi thời (ví dụ : máy bay Concorde trong lĩnh vực hàng không)

Lò EPR : từ 1989, lò EPR (1600 MW) của thế hệ III đã được EDF, Framatome, Siemens chung sức nghiên cứu. Lò chuyển tiếp này, tuy có nhiều tiến bộ, nhưng cũng đã bị nhiều chuyên gia xem như lỗi thời vì cùng một kỹ thuật với lò PWR. Mặc dù có sự chống đối mạnh của đảng xã hội và đảng xanh, chính phủ Pháp vừa tuyên bố phải đầu tư 3,6 tỷ USD vào lò mẫu EPR (vì không thể đợi lò thế hệ IV) để lần lượt thay thế, kể từ 2017, những lò PWR đến tuổi phải ngừng hoạt động. Ta nên đặt câu hỏi tại sao EDF không tiếp tục sử dụng lò PWR tuy đã có nhiều kinh nghiệm quý báu ?

Lò thế hệ IV : lò thế hệ IV đang được 100 chuyên viên của 10 nước (Generation IV International Forum - GIF) nghiên cứu từ hơn ba năm nay. Đó là các nước: Pháp, Mỹ, Anh, Canada, Thụy Sĩ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Nam Phi, Braxin, Achentina. 6 kiểu lò tân tiến (3 lò neutron nhanh, 3 lò nhiệt) đã được lựa chọn. Nếu không gì trở ngại, lò thế hệ IV (có số lượng chất thải phóng xạ thấp và mức an toàn cao - hai điểm này khoa học không thể giải quyết hoàn toàn được), đang trong thời kỳ phôi thai, sẽ được xuất hiện sau năm 2035. Các lò tương lai này có khuynh hướng tiến tới chu kỳ kín (cycle fermé) nghĩa là các lò phải có khả năng đốt cháy phần lớn chất thải (lò nhanh) để hạn chế việc xử lý nhiên liệu. Nhật nghiên cứu lò SFR (Sodium Cooled Fast Reactor). Canada lò SCWR (Supercritical Water Reactor). Pháp lò MSR (Molten Salt Reactor). Điểm yếu của lò MSR là  bị xem như thuộc lò thế hệ V còn xa vời.

Lò nhiệt độ cao VHTR (Very High Temperature Reactor): công suất lò này nhỏ (100 – 300 MW) hiệu suất cao, gần 50% vì chu trình trực tiếp (cycle direct) (lò PWR 30%). Nhiên liệu được xử dụng tối ưu. Lò VHTR (Hélium graphite) được nhiều nước (Anh, Pháp, Mỹ, Nhật, Nam Triều Tiên, Nam Phi) chú trọng, sẽ có nhiều triển vọng hơn lò PWR.

6/- Năng lượng nhiệt hạch hạt nhân :

Năng lượng nhiệt hạch hạt nhân (fusion nucléaire) được nghiên cứu từ mấy chục năm nay; tuy có nhiều tiến bộ khả quan, nhưng vẫn chưa trưởng thành. Nhiên liệu cần thiết tiềm tàng ở biển : deutérium và tritium (từ isotope hydrogène và lithium). Kỹ thuật (nhiệt độ 50 triệu °C) còn gặp rất nhiều trở ngại. Dùng tritium nguy hiểm (tuy đã có kinh nghiệm về bom H - hydrogène) vì bức xạ cao. Cũng có vấn đề an toàn và môi trường. Công suất lò sẽ rất cao. Dự án ITER (International Thermonuclear Experimental Reactor) khởi sự năm 1992, trị giá 6 tỷ USD sẽ cần thêm 6 tỷ USD cho việc nghiên cứu trong 30 năm với sự cộng tác của 1000 chuyên gia. Hiện nay đang có sự tranh dành căng thẳng về địa điểm xây cất giữa Pháp (Cadarache) và Nhật (Rokkasho-Mura). Cũng như nhiều kỹ sư và chuyên gia khác, tôi không tin tưởng lắm vào điện nhiệt hạch hạt nhân. Công nghệ này không thể xuất hiện trước 2070.

7/- Môi trường và việc chống hiệu ứng nhà kính :

Tất cả những nhà máy điện trên thế giới chịu trách nhiệm 1/4 số lượng CO2 được thải lên trời (24 tỷ tấn năm 2002). Số lượng CO2 phát ra của 1 kWh dầu mỏ là 891g, khí 427g, và than 978g. Lĩnh vực vận tải xe cộ và công nghiệp có trách nhiệm lớn hơn.

Nhiều mô hình khí hậu dự đoán rằng nhiệt độ trung bình thế giới có khả năng tăng lên từ 1,5 đến 6°C từ đây đến chân trời 2100. Đến đó mực nước biển cũng có thể cao hơn từ 10 đến 90 cm. Tuy vậy, một số thăm dò ý kiến gần đây cho biết là phần đông các nước chấp nhận hậu quả nguy cơ khí hậu hơn là tai biến hạt nhân. Vài lò hạt nhân ở Việt Nam, không có nghĩa lý gì trong việc chống hiệu ứng nhà kính, trước khối lượng CO2 của Trung Quốc.

Về phần nước Mỹ, có một trách nhiệm rất lớn về CO2 phát ra, nhưng vì coi nhẹ vấn đề môi trường, họ đã từ chối (như Nga và Trung Quốc) việc xác nhận quy ước Kyoto (1997) để chống hiệu ứng nhà kính. Với chỉ 5% dân số thế giới, Mỹ tiêu thụ một cách phung phí và vô tư 25% năng lượng của toàn cầu. Mỗi người dân Mỹ trung bình sử dụng trên 8 tep (tấn dầu), tức là 18 lần con số 0,45 tep của một người dân Việt Nam. Mỗi người Pháp được 4,4 tep. Nhiều công ty ở các nước có công nghiệp mạnh, vì quyền lợi riêng, muốn xuất cảng các lò, đề cao quá mức vai trò điện hạt nhân trong việc chống hiệu ứng nhà kính.

Hậu quả chiến tranh còn đem lại đau thương cho quê hương ta (nạn nhân chất độc màu da cam chẳng hạn), môi trường của ta càng ngày càng bị ô nhiễm phá hoại, sinh ra bệnh tật. Với rác thải mỗi ngày chồng chất lên nhau, ta chưa đủ điều kiện tài chính để giải quyết, tội gì phải đón rước thêm chất thải phóng xạ vô cùng nguy hiểm, không biết lưu giữ ở đâu. Không có một lý do gì cho phép chúng ta tặng món quà này cho con cháu và hàng trăm thế hệ sau.

8/- Kinh tế và tài chính :

Năng lượng và môi trường, hai lĩnh vực vô cùng quan trọng, có tầm vóc quốc tế, cần kinh phí rất nhiều (hàng tỷ USD) và thời gian rất dài (hàng chục năm). Chiến lược (phải nhìn xa chân trời nửa thế kỷ; ở Grenoble nhóm năng lượng chúng tôi đang nhìn đến 2025) của mỗi nước tùy thuộc thị trường thế giới chứ không phải trong phạm vi thu hẹp của một vùng. Hàng trăm, hàng ngàn tỷ USD đã đổ dồn vào lĩnh vực hạt nhân này mà tương lai vẫn không sáng tỏ, sau hơn nửa thế kỷ.

Công nghiệp hạt nhân của Pháp đã thu hút đầu tư tổng cộng gần 200 tỷ USD. Chính quyền đã huy động lực lượng vào tất cả các khâu của chu trình (cycle) hạt nhân. Kinh phí dành cho các công trình nghiên cứu hạt nhân, hàng không vũ trụ, chiếm gần 80% ngân khoản, nên không cho phép ngành năng lượng tái tạo tiến bộ mạnh suốt 30 năm nay. Giá thành kWh điện hạt nhân của EDF sự thật không rẻ như người ta tưởng, nếu kể tất cả những thông số, những kinh phí liên hệ đến việc nghiên cứu, thời gian vận hành, xử lý nhiên liệu, lưu giữ chất thải, tháo gỡ (mỗi nhà máy tốn ít nhất 330 triệu USD tức là 15% kinh phí đầu tư- EDF phải lần lượt để dành hai chục tỷ USD cho khâu này), môi trường, an toàn, bảo hiểm .vv... Đối với các nước đang phát triển như ta, giá thành kWh khó có thể kinh tế được. Nếu lò hay bị trục trặc, không vận hành đủ 6000h mỗi năm, thì dần dần năng lượng tái tạo sẽ có khả năng cạnh tranh.

B - Tình hình quốc nội chưa cho phép:

1/- Đến 2030, nước ta không có vấn đề về cân bằng năng lượng:

1.1/- Nhu cầu :

Đầu năm 2003, tổng công suất đặt ở Việt Nam được 8740 MW. Tổng sản lượng điện là 35,7 TWh, phân chia như sau : thủy điện 18,5 TWh (51,7%), tua bin khí 5,7 TWh (16%), nhiệt điện than 4,9 TWh (13,6%). Đầu năm 2004 công suất đỉnh là 7366 MW (tăng trưởng 14,7%), sản xuất 39,36 tỷ kWh, bán 34,84 tỷ kWh. Với tốc độ tăng trưởng trung bình 11%/năm, theo kế hoạch dài hạn số 5 của Tổng công ty Điện lực Việt Nam (TCTĐLVN), nước ta sẽ cần 200 tỷ kWh năm 2020 (1880 kWh/người.năm).

Gần đây, VNLNTVN cho hay là nước ta sẽ có nhà máy điện hạt nhân đầu tiên ở Ninh Thuận vào năm 2017-2020 với 2 lò (2x1000 MW) trị giá khoảng 4 tỷ USD (công suất 1000 MW tương đối lớn đối với hệ thống điện của ta) Lý do chính là đến năm 2020, trong số 200 tỷ kWh cần thiết, ta thiếu 35 tỷ kWh (con số đưa ra năm ngoái là 65 tỷ kWh), khả năng cung cấp của các nguồn trong nước (than, khí, thủy điện, năng lượng mới) chỉ được 165 tỷ kWh. Câu hỏi đầu tiên là tại sao không đặt mua luôn 6 lò vì 1 lò 1000MW chỉ sản xuất mỗi năm nhiều nhất là 6 tỷ kWh. Ta sẽ dùng nhiên liệu gì để cung cấp 23 tỷ kWh còn thiếu ?

Cũng theo VNLNTVN, năm 2030 nhu cầu sẽ lên đến 327 tỷ kWh. Không lẽ nào, nước ta sẽ phải xây dựng 27 lò hạt nhân (gần một nửa của Pháp) hay sao (trị giá ít nhất 54 tỷ USD). Tức là thêm 25 lò trong 10 năm từ 2020 đến 2030. Cả một công nghiệp hạt nhân đồ sộ?

Riêng về nhu cầu điện lực, theo cá nhân tôi, các con số ghi trên quá lạc quan. Ta không thể tiếp tục ngoại suy mãi và áp dụng tốc độ tăng trưởng lũy thừa như thời gian qua với tốc độ 14-15% mỗi năm. Kinh tế và tài chính quốc gia không thể nào theo kịp, đó là chưa kể khâu sử dụng và tiêu thụ điện, phải được đầu tư đúng nhịp. Đường biểu diễn lũy thừa với một tốc độ cao như thế có ngày làm “nổ hệ thống” như một bong bóng thổi phồng quá mạnh. Năm 1970, EDF cũng đã dự trù sai lầm mức tiêu thụ của Pháp, tưởng sẽ lên đến 1000 TWh năm 2000, nhưng sự thật, nhu cầu ngày nay chưa quá 550 TWh! Ta cũng nên cẩn thận để tránh sự trang bị quá mức, không khéo lại dư điện mà không biết !

Từ 1945 đến 1973 (cơn khủng hoảng dầu mỏ đầu tiên), phần lớn các nước giàu mạnh có nhịp độ tăng trưởng mỗi năm là 7%, có nghĩa là cứ 10 năm phải xây cất thêm nhà máy sản xuất và hệ thống điện để có công suất gấp đôi (ngành điện, xưa kia gọi là định luật cứ 10 năm gấp đôi một lần). Từ 30 năm nay “định luật” này không còn giá trị nữa. Thời kỳ phung phí năng lượng và điện lực đã qua.

Mặc dù nhu cầu điện lực Việt Nam còn lớn, trong tương lai, tốc độ tăng trưởng cũng sẽ hạ dần, trung bình 7% mỗi năm và từ từ sẽ xuống nữa, đặc biệt là nhờ hiện tượng bão hòa. Với tốc độ tăng trưởng kinh tế 7,3%/năm (con số còn lên xuống) và tốc độ tăng trưởng điện lực 11% thì hệ số đàn hồi (coefficient d’élasticité = (ΔE/E)/(ΔPIB/PIB)) của Việt Nam là 1,5, còn quá cao (E ở đây là điện thay vì năng lượng - PIB, tổng sản phẩm quốc nội). Con số này chứng tỏ hiệu suất năng lượng của ta (efficacité énergétique) còn rất kém. Với chính sách tiết kiệm và xử lý năng lượng hợp lý, ta có trách nhiệm phải hạ dần hệ số đàn hồi, thấp chừng nào hay chừng ấy (dưới 1 càng sớm càng tốt). Hệ số đàn hồi của Pháp hiện nay là 0.5. Theo giả thuyết của VNLNTVN, từ 2010 đến 2020 với tốc độ tăng trưởng điện lực 12-14%, kinh tế 7,2-8%, hệ số đàn hồi là 1,73 !

Hệ số đàn hồi không phải là một hằng số mà bắt buộc ta phải chấp nhận mãi ! Ta không thể thản nhiên dựa vào “hằng số” này để tính tốc độ tăng trưởng điện lực. Như thế có nghĩa là ta phung phí năng lượng, coi nhẹ vấn để tiết kiệm và hiệu suất năng lượng (thất thoát của hệ thống sản xuất, truyền tải và phân phối điện lực của ta rất cao - hệ số công suất lại thấp). Mặt khác, tốc độ tăng trưởng PIB cũng không thể theo 1 đường biểu diễn lũy thừa mãi. Với tốc độ 7%, cứ 10 năm hệ thống kinh tế cũng  phải to lớn gấp đôi, làm sao theo kịp. Một cháu bé 10 tuổi cao 1,10m, nếu cứ mỗi năm cao thêm 7%, thì lúc 20 tuổi cháu không ra lọt cửa nhà được.

Đem so sánh số kWh trên đầu người với các nước láng giềng chỉ có tính cách bề mặt, không diễn tả ý nghĩa sâu đậm. Trái lại, nên tán dương những nước, với ít kWh, ít bêtông cốt sắt, ít xe hơi và xí nghiệp gây ô nhiễm, ít công trình đồ sộ, mà thường dân vẫn có mức sống cao với sức khỏe dồi dào và kiến thức rộng.

Mới gần đây ở Trung Quốc, Thủ tướng nước này tuyên bố ở quốc hội là phải thay đổi chiến lược về tốc dộ tăng trưởng kinh tế, để đối phó với tình hình quá căng thẳng ở các lĩnh vực năng lượng môi trường và xã hội. Mặc dù có sự phản đối của rất nhiều đại biểu quốc hội, công trình thủy điện đồ sộ Trois Gorges, có tính cách khiêu khích tạo hóa, vẫn được xây dựng, bất chấp rủi ro và tai biến lớn có thể xảy ra. Chính phủ đang tìm mọi cách để hạ số lượng dầu mỏ nhập cảng ngày càng tăng (mức tiêu thụ hiện nay chỉ thua Mỹ) Tốc độ PIB 9,1% năm 2003 sẽ được hạ xuống 7% năm 2004. Trung Quốc vì đã đầu tư sản xuất quá trớn, bây giờ chủ trương phát triển cân bằng lâu dài, chú trọng đến chất lượng nhiều hơn, khuyến khích tiết kiệm, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Thời kỳ chạy đua một cách mù quáng và hỗn độn theo tốc độ tăng trưởng điện lực và kinh tế đã chấm dứt.

1.2/- Tiềm năng thiên nhiên của đất nước :

Ngược lại, VNLNTVN quá bi quan về các nguồn năng lượng thiên nhiên của nước nhà. Nếu chúng ta biết sử dụng tối ưu năng lượng, hợp lý, có hiệu quả, nếu chúng ta chủ trương triệt để tiết kiệm năng lượng ở mọi lĩnh vực (lẽ cố nhiên không phải dễ vì cần nhiều tiền và ý chí) thì tiềm năng năng lượng cổ điển nội địa có thể đáp ứng nhu cầu đến chân trời 2030. Khi cần, thì nhập cảng nhiên liệu hay mua điện các nước láng giềng (thủy điện Lào chẳng hạn) thì có sao đâu. Xem trường hợp Đức, Mỹ, Nhật, Pháp, Trung Quốc, ...  chẳng hạn.

2/- Nhân sự :

Nước ta tuy có một đội ngũ vài trăm kỹ sư và chuyên viên có trình độ cao trong ngành hạt nhân nhưng vẫn chưa đủ. Lò phản ứng Đà Lạt đã cho ta nhiều kinh nghiệm quý báu nhưng nó chỉ là một lò nghiên cứu loại nhỏ. Một nhà máy điện hạt nhân có công suất lớn rất phức tạp, khai thác và quản lý khó hơn nhiều. Với 58 lò, EDF phải huy động 20 ngàn nhân viên (trong số 125 000) của công ty và 20 ngàn người thuê qua 600 xí nghiệp ở ngoài. Nếu xây dựng nhiều nhà máy ta phải gởi đi tu nghiệp ở ngoại quốc hàng ngàn nhân viên chuyên môn. Vì không có triển vọng, từ  nhiều năm nay, các trường đại học trên thế giới ngày càng vắng bóng sinh viên theo ngành hạt nhân.

 

3/- Cơ cấu công nghiệp :

Phải nhìn nhận rằng công nghiệp nhẹ và nặng của ta chưa có cơ cấu vững chắc, thích hợp với công nghệ hạt nhân tinh xảo, vì tự động hóa (robotique). Việc khai thác và tu bổ sẽ gặp nhiều cản trở, rất tốn kém vì ta thiếu kinh nghiệm, máy móc phụ tùng và chuyên viên.

4/- Cơ sở pháp lý :

Lĩnh vực hạt nhân cần có những cơ sở và văn bản pháp lý vững chắc và nghêm khắc ở tất cả mọi khâu. Ta chưa có ý niệm rõ ràng về tầm quan trọng của nó đối với việc áp dụng những tiêu chuẩn kỹ thuật cũng như việc bảo vệ chu đáo an toàn cho dân chúng.

 

5/- Độc lập, an ninh năng lượng :

Làm điện hạt nhân (với sự kiểm soát thường trực của vệ tinh Mỹ) lẽ cố nhiên ta sẽ phải lệ thuộc lâu dài với ngoại quốc về các lĩnh vực kỹ thuật (máy móc tự động và phụ tùng), nhiên liệu (238U nhất là Uranium làm giàu 3,5% 235U), xử lý nhiên liệu và chuyên viên của nhiều ngành. Mất độc lập, làm sao có an ninh năng lượng.

6/- Xã hội và chính trị :

Bất cứ ở nước dân chủ nào, ép buộc dân chúng chấp nhận sự xây cất nhà máy điện hạt nhân trong làng trong tỉnh họ không phải dễ. Nhiều nước hối tiếc quá trễ vì không trưng cầu dân ý trước khi xây cất, làm hao tốn thì giờ và tiền bạc khi tình thế bắt buộc phải rút lui. Philippines đã có can đảm bỏ cuộc mặc dù nhà máy điện hạt nhân đã xây cất gần xong, làm tốn vài tỷ USD. Nếu rủi ro có tai biến, ngành du lịch sẽ bị tê liệt tức khắc, với hậu quả kinh tế ác liệt hơn bệnh truyền nhiễm SRAS (Syndrome Respiratoire Aigu Sévère) hay dịch cụm gà vừa qua.

C - Giải pháp đối phó quang trọng nhất:

Năng lượng tái tạo, tiết kiệm và hiệu suất năng lượng.

Chỉ trong vòng 2 thế kỷ, nhân loại đã tiêu thụ một cách phung phí, không biết tiết kiệm nguồn năng lượng hóa công (than, dầu mỏ, khí) mà tạo hóa, nhờ mặt trời, đã cặm cụi gầy dựng qua hàng trăm triệu năm, tập trung và dự trữ ở một số mỏ (énergie de stock). Trong vòng ba bốn chục năm tới, dầu, khi kinh tế sẽ bắt đầu khô cạn. Nhân loại nên triệt để khai thác ngay từ bây giờ nguồn năng lượng tái tạo (không tốn tiền nhiên liệu), tức là nguồn thông lượng (énergie de flux). Ngày xưa chúng ta dùng năng lượng mặt trời một cách gián tiếp, ngày nay chúng ta nên tiếp tục sử dụng mặt trời, nhưng một cách trực tiếp hơn. Năng lượng mặt trời do sự chuyển hóa hydrogène ra hélium, cũng là năng lượng nhiệt hạch hạt nhân. Tiềm năng bức xạ mặt trời vô cùng to lớn - 173.109 MW - bằng 20 triệu lần tổng công suất đặt các nhà máy điện Việt Nam hiện có. Xin nhớ rằng, trên vũ trụ, năng lượng chỉ có 3 nguồn gốc chính : mặt trời, địa nhiệt và hạt nhân.

Đến sau năm 2030, bài toán sẽ có 3 giải pháp : năng lượng tái tạo (mặc dù có vấn đề số lượng, môi trường và kinh tế), tiết kiệm - hiệu suất năng lượng và điện hạt nhân. Hai giải pháp đầu là thích hợp cho những nước đang phát triển, vì điều kiện kinh tế, xã hội, khác hẳn với những nước có công nghiệp mạnh. Nếu trong tương lai, tiến bộ khoa học làm các nhà máy chạy than ít ô nhiễm môi trường hơn, thì điện than sẽ có triển vọng, vì dự trữ than rất lớn trên toàn cầu.

Nước Đức, trước khi tuyên bố sẽ đóng cửa các lò hạt nhân, đã triệt để khai thác năng lượng mặt trời và gió (cũng do mặt trời). Về điện gió, Đức hiện đứng hàng đầu với công suất đặt lên quá 12 000MW (tương đương với 12 lò PWR-1000 MW), tiếp theo là Tây Ban Nha (4 830 MW), Mỹ (4 685 MW), Đan Mạch (2 880 MW), Ấn Độ (1 702 MW).

Một nguồn năng lượng rất quan trọng mà ta ít quan tâm, là “tiết kiệm năng lượng”. Năng lượng quý báu nhất là năng lượng mà chúng ta không sử dụng. Chúng ta cần đặc biệt chú trọng đến những “mô hình cầu” hơn là mô hình cung như trọn thời gian qua. Đừng quên rằng công nghiệp ngày nay, nhờ các ngành tin học, điện tử, viễn thông, mỗi năm tiêu thụ năng lượng càng ít hơn.

Nên áp dụng chính sách sản xuất năng lượng phân cấp (Production d’Energies Décentralisées) và khuyến khích khai thác triệt để năng lượng tái tạo tại chỗ như thủy điện nhỏ, gió, mặt trời, biomasse, địa nhiệt, lợi cho nông thôn vì đem lại công ăn việc làm nhiều hơn là xây cất lò hạt nhân. Lẽ cố nhiên, giá thành kWh hiện nay khá cao, nhưng từ từ sẽ có điều kiện cạnh tranh được với các nguồn năng lượng cổ điển và hạt nhân. Sử dụng năng lượng hợp lý cũng có nghĩa là dùng nhiên liệu đúng chỗ, đúng lúc. Có trường hợp nên trực tiếp sử dụng than, củi, dầu mỏ, khí, không cần phải qua nhà máy điện, tổn thất cao (nguyên lý Carnot ).

Dù muốn dù không, tất cả các nước trên thế giới phải chú trọng, ngay từ bây giờ, đến việc khuyếch trương mạnh năng lượng tái tạo và triệt để áp dụng chính sách tiết kiệm và xử lý tối ưu năng lượng để tăng gia hiệu suất. Nhân loại phải lợi dụng “giai đoạn chuyển tiếp năng lượng” từ đây đến 2030 để thay thế bởi nguồn thông lượng, trong những điều kiện kinh tế, dầu mỏ, khí, than. Những cường quốc như Mỹ, Anh, Đức lần lượt đều thay đổi chiến lược đến chân trời 2050 theo chiều hướng nói trên.

D - Kết luận :

Khái niệm nguyên tử (Démocrite) xuất hiện từ thế kỷ thứ 5 trước Công Nguyên. Chúng ta nên khiêm tốn, phải có cái nhìn “triết lý” về chiều sâu. Lĩnh vực hạt nhân, tuy vô cùng nhỏ bé, nhưng mênh mông, nó bắt nguồn từ hạt cơ bản, 10-13cm (Fermi) đến 10-8cm (Angstrom). Cũng phải nhìn rộng, hướng về chân trời xa vời, vì chu kỳ giảm một nửa chất phóng xạ của 239Pu (đáng sợ nhất) là 24 ngàn năm,và chu kỳ của 238U là 4,50  tỷ  năm(lúc ấy mặt trời, hết năng lượng, cũng “vĩnh viễn từ giã cuộc đời”).

Chất thải phóng xạ gồm có hai thành phần chính:

·         Những nguyên tố TRU - TRansUraniens (Pu, Neptunium - Np, Américium - Am .vv.) chiếm 1,1% nhiên liệu đã đốt, với chất độc phóng xạ có hiệu lực hàng triệu năm.

·         Những mảnh phân rã (fragments de fission) chiếm 4% nhiên liệu đã đốt với chất độc phóng xạ kéo dài 200-300 năm.

Với hệ thống lai ADS (Accelerator Driven System) của giải thưởng Nobel Carlo Rubbia và những thí nghiệm liên hệ FEAT (First Energy Amplifier Test) và TARC (Transmutation by Adiabatic Resonance Crossing) các nhà khoa học tìm cách loại bỏ trên 99,9% những nguyên tố TRU và trên 95% những mảnh phân rã có đời sống dài. Vì một số lý do kỹ thuật và kinh tế, nhiều công ty điện lực như EDF không hưởng ứng hệ thống ADS này.

Sự thiêu đốt (incinération) và/hay chuyển vị (transmutation) nguyên tử có những quá trình hết sức lâu và vô cùng phức tạp. Không thể chuyển vị nguyên tử những sản phẩm phân rã có đời sống trung bình như 137Cs và 90Sr .

Nhiều chuyên gia, cho rằng tương lai của công nghiệp hạt nhân không thể sáng tỏ trước những năm 2020, vì về phương diện kỹ thuật, nó tùy thuộc ở độ tin cậy đối với các lò thế hệ IV (2035) và nhất là đối với các lò VHTR sẽ xuất hiện sớm hơn. Tôi hy vọng rằng các cơ quan chức năng trong nước, sẽ hết sức thận trọng; chờ đợi 15 năm nữa để có đủ thời gian nghiên cứu kỹ lưỡng sự biến chuyển của thị trường năng lượng quốc tế và chiều hướng ngành điện hạt nhân, trước khi trình lên chính phủ quyết định. Chúng ta nên rút kinh nghiệm từ các nước giàu mạnh, không nên vội vã, mất thì giờ và phí tiền. Tại sao phải tự ràng buộc vào một lĩnh vực còn bị khủng hoảng trầm trọng. Không thấy lợi mà chỉ thấy hại trước mắt.

Làm điện hạt nhân sẽ đưa nước nhà vào một con đường bế tắc với bao chướng ngại vật. Kẹt ít nhất 100 năm (vì phải chờ 50 năm mới tháo gỡ đươc), không có lối thoát như đã lỡ vào xa lộ đầy sương mù. Trong lúc họ đi ra ta lại đi vào, họ đi tới ta lại đi lui. Nên nhớ rằng giới khoa học đã đặt câu hỏi có nên tiếp tục một kỹ thuật già nửa thế kỷ (kỹ thuật PWR xuất hiện cùng một lúc với tầu ngầm Nautilus của Mỹ năm 1954) và cho rằng việc sử dụng chất phân rã (matière fissile) để làm điện không phải là một thượng sách (Tầu sân bay – porte avions– mà Pháp – Anh sắp thiết kế chung sẽ chạy bằng diesel thay vì hạt nhân).

Phát triển điện hạt nhân không góp phần tăng cường tiềm lực khoa học công nghệ quốc gia như có người tưởng. Chỉ là một phần của ngành năng lượng nhưng nó sẽ thu hút hết nguồn tài chính. Ta sẽ không còn đủ sức để đầu tư vào các lĩnh vực then chốt: giáo dục, nghiên cứu (ưu tiên số 1), y tế và xã hội (nếu hy sinh được hai lò, trị giá 4 tỷ USD, mỗi lĩnh vực trên sẽ được 1 tỷ thì quý biết là bao). Lấy ví dụ điển hình: ở Trung tâm nghiên cứu hạt nhân (Commissariat à l’Energie Atomique) Grenoble, mà tôi được biết rõ (vì đã có dịp tu nghiệp ở đây), người ta đã biết chuyển hướng sớm, đổi sang nghiên cứu các lĩnh vực mới, như micro (10-6 m) điện tử từ lâu và gần đây nano (10-9 m) công nghệ (50 ngàn lần nhỏ hơn sợi tóc!).

Tiện đây, tôi xin mạn phép trình bày vài con số để đọc giả suy nghiệm. Để thắng chiến tranh kinh tế thế giới, các nước Mỹ, Cộng đồng Âu châu, Nhật, Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Úc đang thi đua tăng ngân sách nghiên cứu quốc gia. Năm 2001, Trung Quốc với 60 tỷ USD chiếm hàng thứ ba. Nước này đã mở chiến lược hấp dẫn đón tiếp nhân tài, phần lớn từ Mỹ trở về ngày càng đông (18 000 chuyên viên trong năm 2002).

Trong 3 năm qua, Nhật dành được 3 giải thưởng Nobel về lý, hóa. Mục đích của Nhật là đoạt thêm 20 giải thưởng Nobel từ đây đến 2050. Mỹ có chiến lược thu hút sinh viên ưu tú ngoại quốc. Trong số 600 000 sinh viên hiện ở Mỹ, Á châu dẫn đầu, theo thứ tự : Ấn Độ (75 000), Trung Quốc (65 000), Hàn Quốc (52 000), Nhật (46 000), Đài Loan (28 000). Cũng vì ngân sách eo hẹp, Pháp hiện đang trải qua một cơn khủng hoảng rất lớn trong giới nghiên cứu khoa học.

Lẽ cố nhiên, nước ta không thể cùng một lúc, đầu tư vào tất cả mọi ngành, thi đua với các nước có công nghiệp mạnh. Cần tránh những sai lầm của họ và chỉ chú trọng vào một số ngành đòi hỏi nhiều chất xám, ít tốn kém mà có nhiều triển vọng.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, vô lương tâm, nhiều công ty lớn ngoại quốc, lạm dụng khẩu hiệu “phát triển bền vững” (Hội nghị Johannesburg 09/2002), chủ yếu là bán máy móc, kỹ thuật “để tăng lãi lâu dài” mà không cần biết đến hậu quả kinh tế xã hội và môi trường của những nước đang phát triển. Nhiều nhóm thế lực (lobby) quốc tế gây sức ép với chính phủ và các cơ quan trách nhiệm của họ, để đề cao vai trò điện hạt nhân, bằng cách phổ biến những tin tức không chính xác.

Nếu xu thế là không thể cưỡng lại được toàn cầu hóa, thì một nước đang phát triển như ta cũng chỉ nên chấp nhận toàn cầu hóa này với tất cả sự thận trọng và dè dặt. Không thể chấp nhận việc các nước giàu mạnh tiếp tục bóc lột hay lấn ép nước nghèo. Chế tạo lò hạt nhân thiếu an toàn, để bán cho các nước nghèo (biết đâu lại có hàng tồn kho (solde)?), rồi kệ cho họ mắc kẹt, là một hành vi vô trách nhiệm. Những gì có lợi cho một số cường quốc không phải cũng có lợi cho các nước đang phát triển. Và có những con đường tiến lên phát triển mà không cứ phải bắt chước giống hệt như con đường mà một số nước đã trải qua.

Grenoble, ngày 1/05/2004


 

Phụ bảng

 

Bảng 1: Thang độ năng lượng (échelle d’énergie)

 

10-13 - 10-14 cm    GeV vật lý cơ bản (physique des particules élémentaires).

10-12 cm              MeV vật lý hạt nhân (physique nucléaire).

10-8 cm                  eV vật lý nguyên tử (physique atomique).

 

Nhiên liệu

Than

Khí thiên nhiên

Sản phẩm dầu

Thủy điện

Hạt nhân

Năng lượng tái tạo

Tỷ lệ %

39,1

17,4

7,9

17,1

16,9

1,6

 

 

 

 

 

Bảng 2: Nhiên liệu sử dụng trong năm 2000 để sản xuất điện toàn cầu

 

 

Bảng 3: Danh sách những nước sản xuất điện hạt nhân nhiều nhất trong năm 2001

 

Tên nước

Số lò hạt nhân đang vận hành

TWh sản xuất (2001)

% điện hạt nhân

Số lò đang xây cất

Mỹ

Pháp

Nhật Bản

Đức

Nga

Hàn Quốc

Anh

Canada

Ukraine

Thụy Điển

Tây Ban Nha

Bỉ

103

59

54

19

30

16

33

14

13

11

9

7

768,8

401,3

321,9

171,2

125,4

112,1

83,0

72,4

71,2

69,2

61,0

44,1

20,3

77,1

34,3

29,6

15,4

39,3

22,6

12,8

46,0

43,9

28,8

58,0

 

 

3

 

2

4

 

 

4

 

 

 

 

Bảng 4: Tổng kết nhu cầu năng lượng sơ cấp trên thế giới đến năm 2020 

 

 

2000

2020

Nhiên liệu

Gtep

%

Gtep

%

Dầu mỏ

Khí thiên nhiên

Than đá

3,7

2,1

2,2

40

22

24

5

4

3

40

27

20

Tổng năng lượng hóa thạch

Năng lượng tái tạo (gồm thủy điện)

Hạt nhân

8,0

 

0,7

 

0,6

86

 

7,5

 

6,5

12

 

1

 

1

87

 

6,5

 

6,5

Tổng cộng

9,3

100

14

100

 

 

Bảng 5: Số lượng CO2 phát ra của  1 kWh tuỳ theo nhiên liệu sử dụng

 

Nhiên liệu

Thủy điện

Hạt nhân

Gió

Mặt trời quang điện

Tua bin khí hỗn hợp

Dầu mỏ

Than

CO2 phát ra (g/kWh)

4

6

3-22

60-150

427

891

978

 

Bảng 6: So sánh kinh phí đầu tư và giá thành 1 kWh ở Châu Âu

 

Nhiên liệu

Kinh phí đầu tư

 USD/kW

Giá thành

Centime USD/kWh

Thời gian xây dựng Năm

Khí thiên nhiên

Than

Hạt nhân

400 - 800

 900 - 1300

1500 - 2000

3 - 4,5

  4 - 5

3 - 3,5

2 – 3

3 - 4

5 - 6

 

Bảng 7: Tiềm năng các nguồn năng lượng hóa thạch (énergies fossiles) Việt Nam

 

Năng lượng

Trữ lượng

Khối lượng khai thác (2002)

Khả năng khai thác hàng năm (đến 2020)

Tiêu thụ sơ cấp

Ghi chú

Than(tấn)

Dầu (tấn)

Khí (m3)

3,52.109

 425.106

 617.109

15,5.106

   17.106

2,17.109

     20.106

25,27.106

15,20.109

  8.106

8,8.106

1,3.109

Anthracite Quảng Bình (95%)

Chủ yếu ở thềm lục địa

Riêng về uranium, trữ lượng ở nước nhà vào khoảng 320 000 tấn U3O8, trong đó 6000 tấn có thể được khai thác với giá dưới 80USD/kg.

 

Bảng 8: Tiềm năng thủy điện Việt Nam

 

Năng lượng

Tiềm năng

Khả năng khai thác hàng năm (đến 2020)

Ghi chú

Thủy điện (TWh)

         308,6 (lý thuyết)

         72    (kỹ thuật)                  

         51,6 (kinh tế)

45 - 50

Con số kinh tế cao hơn nếu không có vấn đề môi trường.

 

Bảng 9: Tiềm năng năng lượng tái tạo Việt Nam

Tiềm năng năng lượng gió khác nhau tùy vùng từ 500 kWh/m²/năm đến 1 500 kWh/m²/năm.

Tiềm năng năng lượng bức xạ mặt trời cũng thay đổi từng khu vực. Phía Nam : 175kcal/cm²/năm. Phía Bắc : 100kcal/cm²/năm.

Tiềm năng năng lượng sinh khối (rác, lá, củi, phụ phẩm nông nghiệp) được ước lượng vào khoảng 46-47 triệu tấn củi tương đương, tức 16-17 triệu tấn dầu, hầu hết đã được khai thác.

Tiềm năng năng lượng khí sinh vật của ta tương đương với 440 ngàn tấn dầu nhưng tỷ lệ khai thác rất thấp, khoảng 10%.


 

Bảng 10: Hệ thống dây cao thế và trung thế Việt Nam

 

Năm

Điện thế

kV

Chiều dài

km

Công suất biến thế

MVA

2000

500

1 514

2 850

220

3 732

5 810

66-110

7 851

7 320

Trung thế

50 464

10 390

2002 - 2010

sẽ thiết kế

500

2 416

6 150

220

4 414

13 350

110

7 757

28 730

 

            Trung thế: 6 – 10 – 15 – 22 và 35 kV ( trong tương lai chỉ có 22 và 35 kV được sử dụng).

            Điện hạ thế của ta là 230 – 400 V

   

Bảng 11: Nhu cầu điện lực từ nay đến 2020 ( với mức tăng trưởng trung bình 11% / năm)

 

Năm

2000

2005

2010

2015

2020

TWh

24,9

46,5

78,5

126,9

201,0

kWh/người.năm

306

516

817

1261

1881

 

Bảng 12: Lý do chính của những sự cố cúp điện ở hệ thống dây truyền tải

·         Quá tải liên tiếp trên nhiều đường dây.

·         Tần số bị sụp đổ.

·         Điện thế bị sụp đổ.

·         Mất đồng bộ (perte de synchronisme).