Bài phỏng vấn giáo sư Nguyễn Khắc Nhẫn về Điện Hạt Nhân

 

Đài RFI Paris 23/01/2005

 

 

RFI : Trong thời gian qua, giới chuyên gia trong và ngoài nước có nhiều cuộc tranh luận về việc phát triển Điện Hạt Nhân (ĐHN) tại Việt Nam. Những người ủng hộ dự án cho rằng đây là việc làm cần thiết, thậm chí tất yếu, sớm muộn ǵ cũng phải làm để đáp ứng nhu cầu điện, phục vụ tăng trưởng kinh tế cao. Trong nghiên cứu sơ bộ ban đầu, Việt Nam dự tính vào năm 2020 là sớm nhất, sẽ xây dựng nhà máy ĐHN đầu tiên tại tỉnh Ninh Thuận, ở miền Trung.Thế nhưng, không ít chuyên gia lại cảnh báo về những tốn kém, nguy hiểm và rủi ro khi phát triển ĐHN. Đây cũng là quan điểm của ông Nguyễn Khắc Nhẫn, nguyên cố vấn kinh tế, dự báo, chiến lược EDF (Công ty điện lực Pháp) và giáo sư Đại học Bách khoa Grenoble.

 

            RFI : Thưa giáo sư, một số chuyên gia năng lượng Việt  Nam cho rằng cần phải phát triển ĐHN để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế trong những thập niên tới. Theo thông tin mà giáo sư có được th́ nhu cầu điện của Việt Nam vào năm 2020 sẽ là bao nhiêu và nếu như Việt Nam quyết định phát triển ĐHN th́ bước đầu, dự án Ninh Thuận, dự kiến thực hiện vào năm 2020, sẽ đáp ứng được bao nhiêu phần trăm nhu cầu tiêu thụ điện trong nước ?

            NKN : Trước hết, tôi xin kính chào quư vị khán giả và xin trân trọng cảm ơn đài RFI.

            Như tôi đă có dịp tŕnh bày trên báo chí : ĐHN không kinh tế mà c̣n nguy hiểm cho đất nước. ĐHN không đóng góp vào sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Với chiến lược phát triển ngành điện Việt Nam được công bố ở Hà Nội tháng 10 vừa qua, đến 2020 nước nhà sẽ cần 200 đến 250 tỷ kWh. Theo tôi, nhu cầu sẽ thấp hơn nhiều, dưới 150 tỷ kWh.

            Với 2 ḷ 1000 MW trị giá 4 tỷ USD (mỗi năm sản xuất 2 x 6 tỷ kWh), tỷ lệ ĐHN năm 2020 (có nghĩa phải xây dựng nhà máy 7,8 năm trước) sẽ vào khoảng 5-6%. Nêu lư do cân bằng năng lượng là không đúng v́ như thế có nghĩa là nước ta sẽ có hàng loạt nhà máy ĐHN !

 

            RFI : Giáo sư đă viết nhiều bài lưu ư về những tốn kém, nguy hiểm và rủi ro khi phát triển ĐHN. Trước tiên, xin giáo sư cho biết, về mặt kinh tế nếu tính trong tổng thể, ĐHN có rẻ hơn các loại năng lượng khác hay không ?

            NKN : ĐHN không rẻ hơn các loại điện chạy than, dầu hay khí. Kinh phí đầu tư cao hơn, từ 2 đến 5 lần các nhà máy cổ điển. Ở châu Âu, giá thành 1 kWh các loại nhà máy này có thể xem như tương đương, khoảng 3 đến 5 cUSD. Ở Mỹ, giá thành 1 kWh  ĐHN cao hơn 60% điện chạy than hay khí. Ở những nước đang phát triển như ta, nếu tính hết những chi phí xử lư nhiên liệu, tháo gỡ, lưu giữ chất thải phóng xạ, bảo hiểm an toàn, th́ ĐHN chắc chắc sẽ không kinh tế và giá điện sẽ phải tăng, khổ  cho dân chúng.

            Ta nên dành nguồn tài chính (eo hẹp) cho các lĩnh vực ưu tiên như giáo dục, nghiên cứu, y tế, xă hội…

 

            RFI : Các chuyên gia Việt Nam nói rằng hiện nay, c̣n quá sớm để quyết định lựa chọn loại ḷ phản ứng. Ngoài vấn đề này ra, theo giáo sư, việc phát triển ĐHN có những bất trắc, khó khăn ǵ ? Phải chăng đó là việc phụ thuộc vào những khâu : nguồn nhiên liệu phóng xạ, kỹ thuật xử lư chất thải và tác động của nó tới môi trường ?

            NKN : Tôi xin lỗi, tôi không đồng ư kiến về câu dầu. Nếu muốn có ĐHN năm 2020, phải biết lựa chọn kiểu ḷ nào, bây giờ không phải là quá sớm. Như tôi đă tŕnh bày trên các báo chí và đài phát thanh, chúng ta đang ở thế kẹt v́ hiện nay trên thị trường chỉ có ḷ PWR (Pressurized Water Reactor) được thông dụng nhất, lại bị xem như lỗi thời (kỹ thuật này xuất hiện từ năm 1954 !). Ḷ thế hệ III, EPR (European Pressurized Reactor) 1600 MW (quá lớn đối với hệ thống điện của ta), cùng một kỹ thuật, cũng chưa có nước nào xây cất (Pháp và Phần Lan đang chuẩn bị). Ḷ thế hệ IV th́ phải đợi sau 2040 ! Ngoài vấn đề công nghệ ḷ, c̣n nhiều chướng ngại vật, như việc nhập khẩu uranium giàu 3,5% - 3,7%, việc xử lư nhiên liệu và lưu giữ chất thải phóng xạ. (Đó là chưa kể khâu tháo gở và dập phá hết sức tốn kém – hàng trăm triệu hay hàng tỷ USD– và phải đợi 50 năm !).

            Tchernobyl đă gây ra 3 triệu nạn nhân, nước ta cũng có trên một hai triệu nạn nhân về chất độc màu da cam, và biết bao thương binh c̣n bệnh tật. Tội ǵ ta phải đón rước thêm chất thải phóng xạ, ngàn đời c̣n nguy hiểm.

            St Exupéry có câu : « Chúng ta không thừa hưởng đất đai của tổ tiên. Chúng ta mượn tạm của con cháu !».

            Vạn vật vẫn vô thường. Đừng quên rằng trong chớp nhoáng, tạo hóa có thể lên cơn, nỗi giận, gây băo tố, động đất, sóng thần khủng khiếp !

            ĐHN cũng không giải quyết vấn đề môi trường, mà trái lại. Đổi CO2 với chất thải phóng xạ, chẳng khác nào như đổi dịch tả với dịch hạch hay SIDA với SARS (Severe Acute Respiratory Syndrome)! Một số công nghiệp ngoại quốc có thế lực đề cao quá độ vai tṛ chống hiệu ứng nhà kính để cứu văng t́nh trạng khủng hoảng của ĐHN, kéo dài 25 năm nay.

 

            RFI : Hiện nay, một số nước phát triển cao như Pháp, Đức t́m cách giảm dần vai tṛ ĐHN trong khi đó nhiều nước đang phát triển, như Trung Quốc, lại đầu tư nhiều vào lĩnh vực này. Xin giáo sư giải thích hiện tượng trái ngược này.

            NKN : Anh nhận xét rất đúng. Cũng như nhiều nước Âu châu, Đức đă can đảm tuyên bố bỏ ĐHN. Đó là một hy sinh lớn lao (cả trăm tỷ USD) và cũng là một bài học cho thế giới. Nước Pháp đang tiếp tục ĐHN nhưng sẽ hạ dần tỷ lệ và sẽ tăng tỷ lệ năng lượng tái tạo (NLTT). Sở dĩ Trung Quốc phải xây thêm ḷ ĐHN là v́ nhu cầu mênh mông. Mục đích là để giảm số lượng dầu mỏ nhập khẩu quá đắt và cũng để có thêm kinh nghiệm cho vũ khí nguyên tử. Tuy nhiên, tỷ lệ ĐHN Trung Quốc sẽ không lớn v́ chủ yếu dựa vào năng lượng hóa thạch và NLTT, đặc biệt là thủy điện lớn và nhỏ.

            Khác với Trung Quốc, tiềm năng thiên nhiên của Việt Nam c̣n dồi dào, thừa đủ cho nhu cầu hàng chục năm tới.

            Ta không nên hấp tấp, nghe luận điệu tuyên truyền, vụ lợi, của ngoại quốc.

 

            RFI : Khi lưu ư những điều bất cập, hậu quả của việc phát triển ĐHN, giáo sư cho rằng Việt Nam nên chú ư phát triển các nguồn năng lượng tái tạo và có chính sách tiết kiệm năng lượng. Xin giáo sư cho biết rơ hơn hai gợi ư này.

            NKN : Vâng, trong số 9 bài về ĐHN, tôi đă viết với tất cả nhiệt t́nh dành cho quê hương, có một bài rất dài về NLTT và tiết kiệm năng lượng. Xin phép mời quư bạn xem chi tiết trên mạng www.tailieu.thoidai.org

            NLTT, đặc biệt điện gió và mặt trời, sẽ kinh tế vào năm 2030 tức là 10 năm trước khi các ḷ thế hệ IV ra đời.

            Lẽ cố nhiên, NLTT sẽ không thể thay thế tất cả các loại năng lượng cổ điển, nhưng nó sẽ góp phần hết sức quan trọng cho ḥa b́nh thế giới và việc phát triển lâu bền của nhân loại.

Nước nào cũng cần có một chiến lược dài hạn và hữu hiệu về tiết kiệm năng lượng v́ đó cũng là một nguồn năng lượng quư báu, dễ khai thác. Tôi có cảm tưởng như bên nhà c̣n xem nhẹ vấn đề này.

            Không khéo, dư điện lúc nào ta lại không biết !