Người Lao Động
20/06/2004

Những chiến thuật im lặng

Nguyên Ngọc
 

Khoảng đầu năm nay tôi có được đọc bài “Điện hạt nhân, vì sao phải vội?” của Phạm Duy Hiển đăng trên báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật (ngày 11-1- 2004). Theo chỗ tôi được biết, tác giả Phạm Duy Hiển là một nhà vật lý hạt nhân hàng đầu ở nước ta. Và đây không phải là lần đầu tiên ông lên tiếng về vấn đề quan trọng và nhạy cảm này vốn được nhiều người không chỉ ở trong nước quan tâm.

Trước đây mấy năm ông đã viết một bài rất ấn tượng nói rõ trong tình hình nước ta hiện nay (“hiện nay” ở đây có thể là mười hay vài mươi năm nữa) chưa nên vội “dan díu” với chuyện này, sẽ lợi bất cập hại. Trong một số bài viết hoặc trả lời phỏng vấn khác ở đây đó, ông cũng nhiều lần trở lại với ý kiến này, với nhiều khía cạnh khác nhau. Tức chủ kiến của ông là rất nhất quán, và ông đeo đuổi nó với một ý thức trách nhiệm mạnh mẽ và kiên định.

Ít lâu sau bài viết của Phạm Duy Hiển, Thời báo Kinh tế Sài Gòn trong hai kỳ liên tiếp đã đăng một bài viết công phu của tiến sĩ Nguyễn Khắc Nhẫn, nguyên cố vấn Nha Kinh tế, dự báo, chiến lược EDF Paris, giáo sư trường Đại học Bách khoa Grenoble (Pháp), phân tích cặn kẽ tại sao chưa nên làm điện hạt nhân ở Việt Nam. Theo một nguồn tin đáng tin cậy, ông cũng đã gửi những ý kiến có tính chất kiến nghị đó đến người lãnh đạo cao nhất của nước ta.

Riêng trong bài viết đăng trên báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật nói trên, tác giả Phạm Duy Hiển không chỉ dừng lại ở một vấn đề cụ thể về điện hạt nhân, có nên làm điện hạt nhân ở nước ta hiện nay hay chưa. Qua câu chuyện về một nhà máy điện hạt nhân nghe nói dự kiến có thể được xây dựng đâu đó ở Ninh Thuận vào năm 2017, ông đề cập đến một vấn đề khác, chung hơn và có lẽ còn quan trọng hơn: chuyện những tổ chức nước ngoài nào đó đang đến khuyên nhủ rủ rê chúng ta làm hết chuyện này đến chuyện khác, nghe rất ngon lành, và nhiều người, nhiều tổ chức có trách nhiệm ở ta thì ra sức dùng những ý kiến của “các chuyên gia đầy uy tín của các nước tiên tiến” đó để thuyết phục công luận rằng nên nhất nhất làm theo họ, đầu tư vào những công trình có thể tốn hàng nhiều tỉ đô la, bất chấp hậu quả cụ thể có thể dẫn đến đâu. Các vị “chuyên gia đầy uy tín” lần này là một cái gọi là Diễn đàn nguyên tử Nhật Bản. Gần đây họ sang tổ chức ở ta một cuộc trình diễn được tuyên truyền khá ồn ào, trong đó họ chủ yếu nêu cao hai điều. Thứ nhất, họ "đe" chúng ta rằng Việt Nam sắp thiếu năng lượng đến nơi rồi, từ một nước xuất khẩu năng lượng các anh đang có nguy cơ trở thành nước phải nhập khẩu năng lượng. Lối thoát duy nhất: cần nhanh chóng xây dựng nhà máy điện hạt nhân. Thứ hai: điện hạt nhân rất an toàn, kinh nghiệm của chính Nhật Bản đấy, chẳng có gì phải lo.

Trong khi đó sự thật là như thế nào? Phạm Duy Hiển viết: “Ai dám đoan chắc với dân chúng rằng sau mười năm nữa Việt Nam sẽ phải nhập khẩu năng lượng?... Nhiều người tin rằng tiềm năng về than, dầu mỏ, khi đốt của ta cộng với các giải pháp tiết kiệm năng lượng vẫn còn đủ để chưa cần đến điện hạt nhân ít nhất là trước năm 2030”. Tức là cuộc khủng hoảng năng lượng mà vị khách quý nọ nghiêm trang cảnh cáo chúng ta trong cuộc trình diễn kia chẳng qua là một lời hù dọa người yếu bóng vía. Vì động cơ gì, một người bình thường nhất cũng có thể không khó đoán ra.

Vả chăng, như tác giả Phạm Duy Hiển nói rõ trong bài viết của mình: Cứ giả như chúng ta sắp phải nhập khẩu năng lượng đi nữa, thì đã sao nào? Chẳng phải chính Nhật Bản là nước chủ yếu nhập khẩu năng lượng mà vẫn là một nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới đó sao? Sao lại đi dọa ta?

Thứ hai: điện hạt nhân ở Nhật Bản, như bất cứ người nào ít nhiều có theo dõi báo chí đều có thể biết rõ, chẳng hề an toàn như vị khách đến trình diễn nọ cố tình khoe khoang. Với một trình độ và một kỷ luật công nghiệp nổi tiếng thế giới, họ cũng đã từng phải chịu hàng chục vụ tai nạn hạt nhân, có vụ đã đưa đến chỗ phải đóng cửa toàn bộ 17 lò phản ứng của TEPCO, tập đoàn sản xuất điện lớn nhất nước Nhật...

Việc cái Diễn đàn kia hăng hái đến tổ chức cuộc Trình diễn nọ và “chân thành” cho ta những lời khuyên nhủ tha thiết đến thế, nói cho cùng cũng là chuyện thường tình thôi. Nghề đi chào hàng mà lại! Vấn đề là ở chỗ có người chào hàng thì cũng có người dắt hàng, chứ sao, trong nghề buôn bán làm sao có anh này mà không có anh kia! Hãy xem các cơ quan và tổ chức có trách nhiệm của chúng ta tiếp nhận những lời chào mời đường mật đó như thế nào? Họ cố tình để cho các phương tiện truyền thông ra sức khuếch trương những rêu rao của “các chuyên gia nước ngoài”, làm cho dư luận yên trí rằng chuyện làm điện hạt nhân như thế coi như là đã xong, chỉ còn việc tính thêm đôi chút cụ thể bao giờ làm, làm cụ thể ở đâu. Còn họ thì im lặng một thời gian khá dài, cố tình làm như không hề biết đến những tiếng nói của ngay những chuyên gia trong chính ngành này. Họ chơi chiến thuật im lặng ... Rồi gần đây, có lẽ cho rằng hiệu quả những vụ tuyên truyền kia đã khá ngấm, bỗng nhiên lại thấy họ ra quân rầm rộ, nào viết báo, nào tuyên bố nơi này nơi nọ, nào làm “bàn tròn khoa học” trên vô tuyến truyền hình truyền đi khắp nước, và lại tổ chức triển lãm, lần này rầm rộ hơn, ngay giữa thủ đô, có thêm bốn đối tác mới đến chào hàng ngoài vị đã đến rao hàng lần trước... Họ đã từ bỏ chiến thuật im lặng chăng? Không đâu. Vẫn là chiến thuật im lặng, nhưng là theo kiểu khác: nói, thậm chí nói rất nhiều, nhưng cũng như không nói. Nói vào chỗ trống không, hoàn toàn lờ đi, không trả lời đúng vào những vấn đề nhạy cảm nhất mà những người phản bác họ đã nêu ra, giả tảng đi như hoàn toàn không hề nghe thấy, không hề có những phản bác của các chuyên gia đó. Họ tranh thủ công chúng không biết chuyên môn bằng những lời to tát và bằng những thuật ngữ rất chi là bác học, thuyết giảng hùng hồn và đầy tự tin, và coi như chỉ còn một ít băn khoăn lo lắng của những người không biết gì về khoa học hiện đại của họ mà họ dẹp một lần này nữa là xong. Có vẻ như họ đang quyết dọn dư luận lần cuối cùng để bắt đầu ra tay đến nơi.

Rất may sự việc chưa chịu dừng ở đó. Tiếp theo bài báo quan trọng đã đăng trước đó, trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn ngày 27-5-2004 tiến sĩ Nguyễn Khắc Nhẫn lại đã có bài ngắn gọn nhưng rõ ràng nêu lại những ý kiến chính của mình về vấn đề cực kỳ quan trọng này và trả lời chính xác vào từng điểm một những lý lẽ của ông đương kim viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (VNLNT):

- Cho đến năm 2030, nước ta không có vấn đề về cân bằng năng lượng như VNLNT nói. Trong khi tính toán nhu cầu năng lượng của nước ta mấy chục năm đến, VNLNT đã quá lạc quan về tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam từ đó dẫn đến nhu cầu tăng trưởng năng lượng (14-15%/năm), trong khi lại quá bi quan về các nguồn năng lượng thiên nhiên trong nước. Trong tương lai – và điều này cũng đã thể hiện rõ trong mấy năm lại đây rồi - tốc độ tăng trưởng chỉ có thể đạt trung bình 7%/năm, tức nhu cầu năng lượng cũng phải được tính theo đó. Tiềm năng năng lượng cổ điển nội địa của ta do vậy có thể đáp ứng nhu cầu đến năm 2030. Còn nếu cứ cho đúng như dự tính của VNLNT, đến năm 2020 nước ta sẽ thiếu từ 36-65 tỉ kWh và năm 2030 từ 119-188 tỉ kWh, và mỗi năm ta xây 2 lò điện hạt nhân (ĐHN) cho trung bình 12 tỉ kWh, thì để bù lại chỗ còn thiếu chẳng lẽ ta phải xây từ 6 đến 11 lò cho đến năm 2020 và đến năm 2030 phải có 20 đến 31 lò. Xây bằng phương tiện nào? Vậy rõ ràng ĐHN không giải quyết được vấn đề cân bằng năng lượng cho đất nước. Và chúng ta sẽ phải phụ thuộc nước ngoài lâu dài về thiết bị, nhiên liệu, kỹ thuật, lưu giữ chất phóng xạ... tức cũng không có an ninh năng lượng.

- Không phải chỉ có con đường phát triển ĐHN mới tăng cường mạnh được tiềm lực khoa học, công nghệ quốc gia ông viện trưởng nói, nó là một lĩnh vực khá riêng biệt vì tính an toàn rất cao (nên đòi hỏi rất nhiều kinh phí). Nó cũng chỉ là một phần của ngành năng lượng, nhưng sẽ thu hút hết nguồn tài chính quốc gia (đáng lẽ dành cho giáo dục, y tế, xã hội ...). Làm ĐHN sẽ dễ đưa đất nước vào con đường bế tắc.

- Thật quá lạc quan khi tuyên bố “với công nghệ ĐHN hiện nay sẽ không có tai nạn kiểu Tchernobyl”. Không có công ty nào trên thế giới lúc bán lò hạt nhân cho ta dám ký hợp đồng bảo đảm sẽ không có tai biến lớn xảy ra xếp ở cấp 7, cao nhất của thang độ, như kiểu Tchernobyl. Vả chăng nếu quả thật “các lò phản ứng thương mại hiện nay đã đạt đến độ an toàn rất cao”, “cho đến nay chúng ta mới nghe nói đến một vài sự cố”(!), thì tại sao nhiều nước lại phải tính bỏ ra hàng nhiều tỉ đô la để trang bị loại lò mới dự tính đến vài chục năm nữa mới có? Lại nữa: suốt nửa thế kỷ khoa học đã không tìm ra giải pháp được để chôn cất an toàn chất thải phóng xạ dài ngày, làm sao ông viện tr­ởng VNLNT lại dám đoan chắc đến năm 2050, tức là theo ông đến lúc ta phải chôn chất thải, chắc chắn sẽ không còn vấn đề gì trong chuyện xử lý này nữa? Lại bảo rằng “chất thải sẽ không còn phóng xạ” thì đúng là coi thường hiện tượng vật lý...

- Ông viện trưởng VNLNT cũng đưa ra nhiều thông tin không chính xác về xu hướng phát triển ĐHN hiện nay trên thế giới, xu hướng đó là đang giảm chứ không phải đang tăng như ông nói. Theo Cơ quan Năng lượng quốc tế, tổng công suất ĐHN thế giới hiện nay là 358.000 MW sẽ hạ xuống còn 320.000 MW vào năm 2030. Nhiều nước châu Âu như Đức, Thụy Điển, Bỉ, Ý, Anh, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ ... đã tuyên bố rút hoặc không hưởng ứng phát triển ĐHN nữa.

Trong bài viết của mình, tiến sĩ Nguyễn Khắc Nhẫn cũng vạch rõ một điều đáng chú ý: “Nhiều nhóm thế lực (lobby) quốc tế đã đầu tư quá nhiều tỉ đô-la Mỹ vào lĩnh vực hạt nhân nên lợi dụng việc chống hiệu ứng nhà kính để cứu vãn tình trạng khủng hoảng kéo dài từ 25 năm nay, bằng cách nêu khẩu hiệu ĐHN góp phần giải quyết môi trường”. Nói nôm na ra là họ cố ý thổi phồng tác hại của hiệu ứng nhà kính, rồi rêu rao ĐHN “sạch” hơn các loại năng lượng khác để rao bán những cái của nợ của họ mà họ trót tiêu tốn quá nhiều tiền của đầu tư nay đã bị khủng hoảng. Hình như chính đấy là việc họ đang ra sức gỡ gạc ở nước ta và được nhiều cơ quan, tổ chức có trách nhiệm ở ta thích thú hưởng ứng.

Tôi cũng được đọc trong một bài viết của ông đương kim viện trưởng VNLNT nhận định sau đây: “Những ý kiến cho rằng chúng ta không thể quản lý vận hành nhà máy điện hạt nhân trong tương lai là không có cơ sở khoa học... Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt – một mô hình thu nhỏ của nhà máy điện hạt nhân do Mỹ bỏ lại sau chiến tranh - đã được chúng ta khôi phục, cải tiến, bảo dưỡng, vận hành an toàn và khai thác có hiệu quả trong 20 năm qua, là một bằng chứng sinh động ...”[1]. Tôi có đem điều này hỏi lại ông Phạm Duy Hiển, là người đã khôi phục chính cái lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt ấy và làm giám đốc ở đấy suốt hàng chục năm. Ông cho biết: Đấy là hai việc hoàn toàn khác nhau. Lò Đà Lạt là một lò nghiên cứu loại nhỏ, chỉ có công suất 500 kw nhiệt năng, còn một nhà máy điện hạt nhân thì công suất đến 5.000.000 kw nhiệt năng, khác nhau một trời một vực! Riêng tôi, nôm na hơn tôi nghĩ: so sánh như vậy có lẽ cũng hơi giống như so sánh khả năng vận hành một cái máy phát điện nhỏ chạy bằng nước ở các chân ruộng bậc thang bà con các dân tộc miền núi vẫn dùng để thắp sáng một ngọn đèn nhỏ và xem cái ti vi đen trắng trên rẻo cao với việc vận hành chẳng hạn nhà máy thủy điện Hòa Bình! Những người có trách nhiệm cao chớ nên nói với công chúng những điều như vậy. Nói như vậy, thì âu cũng là một kiểu chiến thuật im lặng nữa thôi!

Hiện chúng ta đang chứng kiến chiến thuật này được nhiều người có trách nhiệm, cả trách nhiệm về những chuyện lắm khi rất trọng đại liên quan đến những quyền lợi to lớn của đất nước, áp dụng không chỉ trong mỗi chuyện điện hạt nhân. Có lẽ đã đến lúc cần phải nói rõ điều này: im lặng, lờ đi, không chịu đối mặt và trả lời thẳng, đúng ngay vào những ý kiến phản bác của những người có ý kiến khác mình, khác với những chủ trương, những việc mình đang làm mà người ta cho là sai trái, có hại, đang là một tệ nạn ngày càng phổ biến. Nó làm tê liệt đời sống dân chủ trong xã hội.

Trong chuyện điện hạt nhân, cũng như rất nhiều người khác trong nước bây giờ, tôi là người ngoại đạo, chẳng có chút hiểu biết chuyên môn gì. Nhưng là một công dân bình thường, khi được nghe những nhà vật lý có uy tín và có chuyên môn sâu về lĩnh vực này có ý kiến và có ý kiến nghiêm túc và nghiêm trọng như tác giả Phạm Duy Hiển đã viết trong nhiều bài viết nhất quán và kiên định của ông, như tiến sĩ Nguyễn Khắc Nhẫn kiên trì ý kiến của mình một cách hết sức có trách nhiệm và là những ý kiến sâu và cơ bản về vấn đề này, thì tôi nghĩ tôi có quyền được biết sự thật ở đây thực ra là thế nào, tôi có quyền đòi hỏi những người có trách nhiệm trực tiếp trong việc này trả lời cụ thể thẳng vào những ý kiến đó, không được giả tảng lờ đi.

Nguyên Ngọc

Bài đăng ở: Báo Người Lao Động - Bạn đọc