Radio Australia
Thursday, 3 April 2003Nguồn:
Radio
Australia
Phỏng vấn Giáo Sư Vương Hữu Tấn
Producer: Truờng Giang
Giáo Sư Vương Hữu Tấn: ".... Hiện nay, điều quan tâm nhiều
chính là thải ở, một là các cở sở xạ trị như tôi nói, nguồn phóng xạ
dùng cho xạ trị, dùng cho điều trị ung thư; cái thứ hai là dùng
trong các công nghiệp kiểm tra lỗ khoan để tìm kiếm thăm dò, hay là
trong một số nhà máy, như nhà máy xi-măng người ta dùng rất nhiều
các nguồn phóng xạ trong các quy trình đảm bảo chất lượng của sản
phẩm xi-măng đó ...."
Trường Giang: Kính thưa quý vị, vừa rồi là lời phát biểu của
Giáo Sư Vương Hữu Tấn, Viện Trưởng Viện Năng Lượng Nguyên Tử Việt
Nam, về công tác quản lý chất thải phóng xạ tại Việt Nam.
Trong phần đầu bài phỏng vấn mà quý vị đã nghe vào tuần trước, giáo
sư đã trình bày khái quát phóng xạ là gì, các dạng phóng xạ, nguyên
nhân phát sinh và tác hại của phóng xạ. Hôm nay, mời quý vị nghe
tiếp phần cuối bài này. Khi được hỏi về các biện pháp nhằm ngăn ngừa
tác hại của chất thải phóng xạ trên con người và môi trường, Giáo Sư
Vương Hữu Tấn cho biết như sau ....
Giáo Sư Vương Hữu Tấn: Chiến lược hiện nay của chúng tôi là
đề nghị các cơ sở tạm thời quản lý tại cơ sở của người ta. Sau khi
mà nhà nước có một cái cơ sở quản lý chung thì lúc đó sẽ đưa gom về
một nơi để quản lý chung thì nó thuận tiện hơn.
Nếu những cơ sở đó, họ không có đủ điều kiện, hoặc là người ta làm
không nghiêm chỉnh, nó sẽ có thể dẫn đến chuyện chất thải bị thất
lạc mà gây ra những sự cố thì rất là nguy hiểm. Cho nên chúng tôi
luôn luôn hằng năm đều phải tổ chức những lớp tập huấn, rồi để huấn
luyện cho các cán bộ ở cấp cơ sở người ta biết vấn đề đó để người ta
nâng cao ý thức trách nhiệm và vấn đề quản lý các chất thải phóng xạ
tại các cơ sở của người ta.
Tất cả các cơ sở đều phải có những quy định về đảm bảo an toàn bức
xạ trong khi làm việc, thí dụ như điều kiện về phòng ốc phải ra làm
sao, nhân viên làm việc thì phải có những trang bị bảo hộ như thế
nào, rồi thời gian làm việc.
Tất cả có những quy định rất cụ thể trong từng lãnh vực một. Chúng
tôi phải xây dựng những quy trình để làm việc với phóng xạ đối với
từng loại hình cơ sở, ví dụ như trong X-quang chẩn đoán này, trong
xạ trị để điều trị ung thư này, tất cả đều phải có những quy trình
đảm bảo an toàn bức xạ cho lãnh vực này.
Hằng năm, chúng tôi đều có tập huấn cho các cán bộ làm việc trong
lãnh vực này để họ tăng thêm kiến thức, giúp họ tự bảo vệ mình cũng
như bảo vệ những người chung quanh.
Trường Giang: Vừa rồi, chúng tôi được biết ở nhà máy tầu biển
Hyundai Vinashin ở Nha Trang, nhân viên ở đó để rơi một thỏi Iridium
192 ra ngoài. Trường hợp này như thế nào, thưa giáo sư?
Giáo Sư Vương Hữu Tấn: Trường hợp đó là, đấy là xẩy ra ở một
cơ sở chụp hình công nghiệp, tức là người ta dùng nguồn phóng xạ Iri
192 để thăm dò các khuyết tật trong các mối hàn của tầu biển để đảm
bảo đánh giá chất lượng.
Qua sự cố này, cũng có một số nhân viên làm việc trực tiếp thì cũng
bị chiếu một cái liều cao hơn mức bình thường, chúng tôi cũng kịp
thời xuống lấy máu để xét nghiệm sắc thể của họ để xem là họ chịu
liều bao nhiêu để từ đó có khuyến cáo cho cơ quan của họ cũng như có
giải pháp giúp cho họ trong việc bảo vệ sức khỏe cho nhân viên ở
đấy.
Trường Giang: Ngoài tai nạn vừa rồi, từ trước đến nay ở Việt
Nam đã xẩy ra những tai nạn gây nhiễm xạ nào khác không?
Giáo Sư Vương Hữu Tấn: Nói chung, theo số liệu chúng tôi quản
lý được, ngoài tai nạn này, thì trước đây, cách đây khoảng cuối năm
80 có một cái sự cố trên một cái máy gia tốc của một cái viện nghiên
cứu thôi do khi cán bộ thao tác, ảnh bị chiếu một cái vào cánh tay,
cuối cùng là phải thay cái bàn tay, lúc đó phải nhờ bên Pháp giúp
cho cái việc xử lý tai nạn bởi vì nó bị chiều liều quá lớn dẫn đến
hoại tử. Có lẽ là một sự cố, còn thì hầu như là chúng tôi chưa thấy
một cái sự cố nào khác.
Trường Giang: Là một người làm việc trong lãnh vực năng lượng
hạt nhân, giáo sư nhận định những khó khăn nào Việt Nam đang gặp
phải trong công tác quản lý chất thải phóng xạ.
Giáo Sư Vương Hữu Tấn: Muốn quản lý tốt chất thải phóng xạ,
thứ nhất mình cũng phải có nhân lực này, các cơ sở hạ tầng về lập
pháp rồi điều kiện kỹ thuật, rồi là đảm bảo về mặt tài chính.
Ở Việt Nam hiện nay, chất thải cũng chưa nhiều; nhưng nếu cứ để tình
trạng quản lý phân tán ở các cơ sở xử dụng như vậy, thì cũng có thể
một ngày nào đó, nếu như xảy ra những sự cố thì quả thực sự là đáng
tiếc, mặc dù chúng ta biết trước việc đó.
Như vậy, chúng tôi nghĩ rằng cái khó hiện nay có lẽ là khuôn khổ
luật pháp thì đúng là cũng chưa đầy đủ, vì chúng tôi hiện nay đang
tiến hành từng bước xây dựng cho đầy đủ hệ thống lập pháp, kể cả
luật lớn nhất là luật về nguyên tử của Việt Nam.
Thứ hai là vấn đề cán bộ, có thể nói cán bộ mà làm việc trực tiếp
trong lãnh vực thải cũng không có nhiều đâu. Hiện nay, chúng tôi chỉ
có một đội ngũ ở Viện Nghiên Cứu Hạt Nhân Đà Lạt, và một nhóm nữa
thì làm ở ngoài Hà Nội này.
Số lượng này thì có thể nói cũng chưa nhiều; nhưng mà tôi nghĩ rằng
nhà nước mà quyết định phương án phát triển dài hạn về năng lượng
nguyên tử thì khả năng đào tạo cán bộ cũng không phải là vấn đề lớn,
có thể hoàn toàn có thể thu xếp được.
Vấn đề thứ ba là vấn đề về cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện nay, đúng quả
là hiện nay chúng tôi mới chỉ có một cái nơi mà có thiết bị xử lý
thải tương đối tốt là Lò Phản Ứng Hạt Nhân Đà Lạt. Ở đấy thì có đủ
các loại dây chuyền để xử lý; chứ còn ở các cơ sở khác ấy, đúng là
nếu mà làm thì hiện nay còn đang thiếu.
Cho nên chiến lược sắp tới chúng tôi cần phải kiến nghị với nhà nước
là làm cái nghĩa địa xử lý thải chung của quốc gia để tất cả các
thải có thể tập trung vào đấy để xử lý và lưu giữ. Có như vậy thì
mới có thể đảm bảo việc quản lý một cách an toàn ở phạm vi toàn quốc
được; chứ để như bây giờ thì hơi bị phân tán, rất là khó, khó có thể
quản lý được.
Trường Giang: Vừa rồi, giáo sư có đề cập đến nghĩa địa chứa
chất thải phóng xạ. Giáo sư có thể cho biết là một nghĩa địa như
thế, một bãi chứa phế thải như vậy thì nó phải hội đủ những điều
kiện như thế nào?
Giáo Sư Vương Hữu Tấn: Nghĩa địa phóng xạ ở đây, nó có hai
yếu tố. Yếu tố thứ nhất là yếu tố về mặt an toàn và yếu tố thứ hai
là yếu tố về mặt kinh tế.
Yếu tố về mặt an toàn thì có thể nói là nó không ảnh hưởng đến môi
trường, ví dụ nó không thấm xuống nước ngầm, rồi từ nước ngầm, nó có
thể lan truyền đến các nơi khác, ví dụ thế; hay là nó không bị ảnh
hưởng, bị lụt bão nó có thể làm ngập cái đó rồi nó làm hỏng rồi từ
đó thông qua nước, nó lại ngấm ra ngoài, rồi nó phải đảm bảo vấn đề
an ninh, người ta không thể xâm nhập vào được.
Về mặt kinh tế, như vậy nó phải gần những nơi phát thải để nó tránh,
giảm chi phí vận chuyển đi, thuận tiện trong việc giao thông liên
lạc. Những tiêu chí chung về cơ bản, Cơ Quan Năng Lượng Nguyên Tử
Quốc Tế đã có những khuyến cáo, có những quyển sách hướng dẫn rất rõ
về vấn đề này.
Trường Giang: Nhìn chung, giáo sư nghĩ gì về công tác quản lý
chất thải phóng xạ tại Việt Nam hiện nay?
Giáo Sư Vương Hữu Tấn: Hiện nay, chúng tôi đang tham gia vào
chương trình hợp tác hạt nhân châu Á mà Úc cũng là một thành viên
trong đó, nó gọi là Diễn Đàn Hợp Tác Hạt Nhân Châu Á.
Trong hoạt động trong khuôn khổ của diễn đàn này, nó có một cái nội
dung là quản lý chất thải phóng xạ, thế thì hằng năm đều có những
thông tin trao đổi giữa các nước thì có thể nói rằng, về cơ bản, cho
đến nay cũng là tuân thủ tương đối tốt những yêu cầu chung.
Từ năm 2000, chúng tôi có một chương trình thống kê điều tra các cơ
sở xử dụng mà, cho nên về cơ bản thì cũng đã nắm được những số liệu
đó; còn bước để thu gom lại như tôi nói thì phải đợi một khi chúng
ta có một nghĩa địa phóng xạ quốc gia.
Trường Giang: Trong khuôn khổ bang giao giữa Việt Nam với Úc,
nước Úc đã có giúp đỡ gì được cho Việt Nam trong lãnh vực hạt nhân
chưa ạ?
Giáo Sư Vương Hữu Tấn: Quan hệ song phương một cách trực tiếp
ấy, Việt Nam và Úc về lãnh vực này thì chưa có; nhưng mà chúng tôi
hợp tác thông qua mấy cái tổ chức. Thứ nhất là hợp tác thông qua Cơ
Quan Năng Lượng Nguyên Tử Quốc Tế, rất nhiều chuyên gia Úc cũng đã
đến làm việc với chúng tôi và chúng tôi cũng có rất nhiều chuyên gia
đến làm việc tại Úc.
Thứ hai là thông qua Diễn Đàn Hợp Tác Hạt Nhân Châu Á như tôi nói
ban nãy, thì Úc là tài trợ chính cho một dự án về văn hóa an toàn,
tức là để nâng cao nhận thức của con người làm việc trong lãnh vực
hạt nhân.
Thế thì năm vừa rồi có tổ chức một cuộc hội thảo tại Đà Lạt do Úc
tài trợ. Úc là chủ trì chính trong cuộc hội thảo về văn hóa an toàn,
tức là giúp nâng cao nhận thức về an toàn cho các cán bộ làm việc
trong các cơ sở hạt nhân.
Có thể nói là mặc dù chưa có quan hệ một cách song phương trực tiếp;
nhưng mà quan hệ giữa các nhà khoa học, cũng như những đóng góp của
Úc trong hoạt động chung của Việt Nam trong lãnh vực này thì cũng là
rất lớn.
Trường Giang: Xin phép được hỏi giáo sư câu hỏi cuối cùng.
Theo giáo sư, năng lượng hạt nhân sẽ giữ một vai trò như thế nào
trong nền kinh tế Việt Nam?
Giáo Sư Vương Hữu Tấn: Như tôi nói, năng lượng hạt nhân có
hai ứng dụng là ứng dụng phi năng lượng và ứng dụng năng lượng. Ứng
dụng phi năng lượng thì chúng ta đã làm rất nhiều rồi mà hiện nay
cũng đã có rất nhiều thành quả.
Tôi ví dụ như là trong y tế, bây giờ có thể nói là từ khi chúng tôi
đưa Lò Phản Ứng Hạt Nhân ở Đà Lạt vào hoạt động, lúc đó toàn Việt
Nam chỉ có hai cơ sở y học hạt nhân để giúp cho chẩn đoán và điều
trị; bây giờ chúng tôi có 23 cơ sở y học hạt nhân trên toàn quốc, và
hằng năm có thể nói giúp cho việc chẩn đoán hằng trăm nghìn bệnh
nhân.
Thứ hai là lãnh vực về xạ trị, cũng trong y học đấy, hiện nay là
chúng tôi cũng phát triển rất mạnh các hệ thống, các thiết bị dùng
cho xạ trị, dùng cho điều trị ung thư cho nhân dân.
Có thể nói hằng năm hiện nay ở Việt Nam, số lượng bệnh ung thư hằng
năm phát triển mới rất nhiều, hiện nay một năm khoảng 150.000 ca
bệnh nhân ung thư mới phát hiện; trong khi khả năng của y tế chỉ đáp
ứng được khoảng 1/3 nhu cầu điều trị bệnh. Còn trong nông nghiệp,
hiện nay cũng đã có một số các giống cây trồng, đặc biệt là một số
giống lúa có chất lượng cao, có năng xuất, đã được tạo ra bằng kỹ
thuật đột biến phóng xạ.
Trong công nghiệp thì rất nhiều ngành, ngành hiện nay dùng nhiều
nhất, tức là kiểm tra chất lượng các công trình, kiểm tra các mối
hàn, rồi đánh giá chất lượng các công trình xây dựng cầu đường, rồi
trong dầu khí, đấy ví dụ thế. Có thể nói là tiềm năng cũng như các
ứng dụng của kỹ thuật hạt nhân là rất lớn.
Trong lĩnh vực phi năng lượng ấy, theo đánh giá trên thế giới, người
ta thấy rằng hiệu quả của ứng dụng phi năng lượng rất là cao, trung
bình người ta thấy rằng nếu anh đầu tư một đồng, anh có thể thu lại
được 7 đồng, có thể nói đấy là tỷ lệ rất lớn, cho nên là chúng tôi
cũng chủ trương phải đẩy mạnh rất nhiều ứng dụng phi năng lượng, tức
là ứng dụng các phi hạt nhân trong các lãnh vực của đời sống kinh
tế.
Thế còn lãnh vực lớn thứ hai, tức lãnh vực phát điện ấy, thì hiện
nay, chính phủ Việt Nam cũng đang nghiên cứu vấn đề này, đang nghiên
cứu xem khả năng Việt Nam có thể phát triển nhà máy điện hạt nhân,
thì chúng tôi đang được giao nhiệm vụ nghiên cứu để làm rõ vấn đề là
Việt Nam có cần hay không cần phát triển điện hạt nhân trong tương
lai sắp tới để đáp ứng nhu cầu điện năng của đất nước.
Nói tựu chung lại, thì có thể nói là năng lượng nguyên tử tôi nghĩ
rằng trong tương lai sắp tới thì chắc chắn là sẽ có đóng góp rất lớn
cho quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam trong thời gian tới.
Trường Giang: Kính thưa quý vị, bài phỏng vấn về vấn đề chất
thải phóng xạ đến đây là hết. Xin chân thành cảm tạ Giáo Sư Vương
Hữu Tấn, Viện Trưởng Viện Năng Lượng Nguyên Tử Việt Nam đã dành cho
Ban Việt ngữ Đài Australia cuộc phỏng vấn này. Trường Giang xin chào
tạm biệt và xin hẹn gặp lại quý vị cũng trong mục này vào kỳ sau.
© 2003 Australian Broadcasting Corporation
|